Partner im RedaktionsNetzwerk Deutschland

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Podcast TẠP CHÍ VIỆT NAM
Podcast TẠP CHÍ VIỆT NAM

TẠP CHÍ VIỆT NAM

juntar

Episódios Disponíveis

5 de 24
  • Chiến tranh Việt Nam : Vai trò của Pháp trong Hiệp định Paris 1973
    Ngày 27/01/1973, cách đây đúng 50 năm, Hiệp định về Việt Nam được ký ở Paris sau gần 5 năm đàm phán, bắt đầu từ ngày 13/05/1968. Dân tộc Việt Nam đã khiến đế quốc Mỹ phải khuất phục, theo nhật báo Cộng sản của Pháp L’Humanité, trong số kỷ niệm 40 năm ngày ký Hiệp định Paris, nhưng thực tế, phải chờ hai năm sau, chiến tranh mới chính thức chấm dứt, do Washington tiếp tục hậu thuẫn, vũ trang cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Trong suốt thời gian đàm phán tại Paris, chính phủ Pháp đã đóng vai trò quan trọng, từ công tác hậu cần đến những ý tưởng được đưa vào Hiệp định Paris. Giáo sư lịch sử đương đại Pierre Journoud, Đại học Paul Valéry - Montpellier III phân tích vai trò của Pháp trong buổi phỏng vấn với RFI Tiếng Việt nhân 50 năm ký Hiệp định Paris. RFI : Xin ông cho biết lý do và bối cảnh diễn ra Hội nghị 1973 tại Paris !  Giáo sư Pierre Journoud : Hội nghị năm 1973 diễn ra tại Paris sau gần 5 năm đàm phán công khai bí mật và riêng tư. Nếu Paris được các bên trong cuộc xung đột - Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng với đồng minh của mỗi bên - lựa chọn là bởi vì Pháp theo đuổi một chính sách ngoại giao mà sau này được đánh giá là "tạo điều kiện thuận lợi" với sự pha trộn giữa ngoại giao công khai, ngoại giao bí mật để đẩy nhanh việc kết thúc chiến tranh.  Chính sách này đã được tướng De Gaulle triển khai rõ ràng ngay năm 1965-1966, với những lá thư trao đổi với chủ tịch Hồ Chí Minh, với bài diễn văn Phnom Penh năm 1966, cũng như những trao đổi rất sâu sắc về kế hoạch ngoại giao không chỉ với các quốc gia tham chiến mà cả các cường quốc khu vực và trên quốc tế, như Trung Quốc, Liên Xô… những nước ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tất cả những tương tác giữa ngoại giao công chúng và ngoại giao bí mật đã dẫn đến việc các bên tham chiến chọn Paris để ngồi vào bàn đàm phán. Ngoài ra, hình dạng của chiếc bàn đàm phán cũng là chủ đề của nhiều cuộc trao đổi trong hơn một tháng, cũng như việc xem xét tiếp đón ở đâu, như thế nào các phái đoàn đồng minh, trong đó một bên có Việt Nam Cộng hòa, bên kia có Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.  Có thể thấy điểm quan trọng đầu tiên là Pháp có chính sách tạo thuận lợi, tiếp đến là các phương tiện liên lạc ở Paris đều được tất cả các đối tác khen ngợi. Và phải kể đến các cơ sở ngoại giao, có nghĩa là tất cả các bên trong cuộc xung đột đều có đại diện, không chỉ Hoa Kỳ, một đồng minh lâu đời của Pháp, thông qua đại sứ quán, mà cả Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với một phái đoàn, hoặc Việt Nam Cộng hòa cũng có một phái đoàn, rồi Mặt trận Dân tộc Giải phóng sau này trở thành Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam - GRP - được công nhận thông qua một văn phòng đại diện từ năm 1969. Đây là một yếu tố quan trọng đối với Hà Nội.  Lý do có thể được cho là cuối cùng, đó là sự hiện diện quan trọng của cộng đồng người Việt tại Pháp, đặc biệt là ở Paris. Đó là một cộng đồng tương đối ủng hộ chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nói chung.  Đây là những lý do giải thích cho việc chọn Paris để tổ chức hội nghị năm 1973, cho dù một số tổng thống Mỹ tỏ ra rất miễn cưỡng, nhất là tổng thống Johnson năm 1968, nhưng sau đó đã được xóa bỏ nhờ một số lập luận của các cố vấn dân sự. Còn tổng thống Nixon, khi lên nắm quyền thì hội nghị đã mở ra ở Paris từ năm 1969, đã có cái nhìn tích cực hơn nhiều về tướng De Gaulle và người kế nhiệm là Georges Pompidou, về nước Pháp nói chung và đóng góp của Pháp. Vì vậy, tổng thống Nixon không bao giờ thắc mắc về việc lựa chọn Paris. Phía miền Nam và miền Bắc Việt Nam cũng tương tự.  RFI : Pháp đã đóng vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức hội nghị, cũng như thành công của Hội nghị Paris năm 1973. Vai trò cụ thể của Pháp là gì ?  GS. Pierre Journoud : Đúng, vai trò của Pháp được Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận một cách khá kín đáo trong các trao đổi, thư từ mà tôi tìm thấy trong tài liệu lưu trữ, đặc biệt là của Pháp và Mỹ. Trước tiên, Pháp cung cấp cơ sở vật chất, cụ thể là nơi ăn ở, theo lời một giám đốc phụ trách châu Á của bộ Ngoại Giao Pháp, như nơi ở cho các phái đoàn, phòng họp, bắt đầu với phòng hội nghị quốc tế trên đại lộ Kleber.  Nhưng tôi cho rằng, ngoài mặt vật chất, Pháp đã góp phần nuôi dưỡng đối thoại liên tục. Sau khi nghiên cứu rất nhiều tài liệu, tôi thấy là ngành ngoại giao Pháp rất năng động trong việc bao quát, nỗ lực nắm bắt tình hình chính trị, quân sự trên chiến trường, cố gắng tìm kiếm những thỏa hiệp cần thiết cho thành công cuối cùng của cuộc đàm phán. Một số ý tưởng của Pháp xuất hiện trong quá trình soạn thảo văn bản Hiệp định Paris. Ví dụ một ý tưởng đã được tướng De Gaulle đưa ra từ rất sớm trong bài diễn văn đọc tại Phnom Penh năm 1966 là người Mỹ không thể có một chiến thắng quân sự và họ phải đàm phán. Vì vậy, ông đã sớm nêu lên giải pháp đàm phán trên bình diện ngoại giao và việc Mỹ phải rút quân trong một khung thời gian phù hợp, ấn định.  Ngành ngoại giao Pháp còn đưa ra ý tưởng đàm phán cùng lúc các mặt chính trị và quân sự - điều được thực hiện sau này trong quá trình đàm phán, cũng như ý tưởng trả tự do cho tù binh song song với các cuộc đàm phán. Ngoài ra còn có nhiều ý tưởng khác, như về tính trung lập của bán đảo Đông Dương, đặc biệt là Lào và Cam Bốt.  Có thể thấy quy mô cấp vùng của cuộc đàm phán, kết quả đám phán mà theo tôi, nhờ nỗ lực của một số nhà ngoại giao. Ví dụ trước tiên là Etienne Manac'h, giám đốc phụ trách châu Á của bộ Ngoại Giao Pháp, người đã dành nhiều thời gian nói chuyện trong hậu trường với tất cả các bên Việt Nam và Hoa Kỳ, tiếp theo là người kế nhiệm Henri Froment-Meurice. Ngoài ra, phải kể đến một số nhà trung gian, không phải là những nhà ngoại giao chuyên nghiệp, mà là những nhân vật chính trị hoặc xã hội dân sự ở Pháp. Tôi đặc biệt nghĩ đến Jean Sainteny hay Raymond Aubrac, một người bạn thân của chủ tịch Hồ Chí Minh và đóng vai trò bí mật trong các cuộc đàm phán này cho đến lúc ký Hiệp định Paris năm 1973.  Toàn bộ ngành ngoại giao Pháp không ngừng kêu gọi “Việt Nam hóa hòa bình, chứ không phải chiến tranh”, theo cách gọi của ngoại trưởng Pháp Maurice Schumann. Đây thực sự là kim chỉ nam của ông, cho dù tôi nghĩ đôi lúc là đầy ảo tưởng. Nhưng dù sao, khẩu hiệu đó đã được sử dụng để cụ thể hóa đến cùng mục tiêu đó.  RFI : Hiệp định Paris được ký ngày 27/01/1973, nhưng chiến tranh không kết thúc ngay. Tại sao Hiệp định lại không được tuân thủ ?   GS. Pierre Journoud : Đúng thế, các cuộc giao tranh nhanh chóng tái diễn trên chiến trường. Thỏa thuận đình chiến đã bị vi phạm nhiều lần. Rất khó để biết là ai, khi nào, như thế nào... Nhưng các bên đổ trách nhiệm cho nhau đến mức vào tháng 06/1973, bộ Chính trị quyết định tiếp tục đấu tranh vũ trang, bởi vì đã có quá nhiều vụ vi phạm ngừng bắn. Một lý do khác, có lẽ các điều khoản chính trị của Hiệp định lại khá viển vông vì một trong những điều khoản chính là tập hợp một chính quyền lâm thời gồm 3 thành phần, gồm phía Cộng sản, chống Cộng sản và trung lập. Khi biết lịch sử chiến tranh Việt Nam, chúng ta thấy rằng những người theo Cộng sản và những người chống Cộng đã trải qua nhiều năm chiến tranh chống lại nhau nên có thể nghi ngờ rằng ngồi cùng bàn và suy tính cách cùng nhau quản lý là việc vô cùng khó khăn, nếu không muốn nói là hoàn toàn viển vông. Tôi nghĩ điều mà các nhà đàm phán tìm kiếm có phần nào ảo tưởng, ví dụ ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger với ý tưởng là sẽ có một "khoảng cách hợp lý" (decent interval) theo cách ông gọi với tổng thống Nixon. Có nghĩa là có thể duy trì một miền Nam Việt Nam vẫn độc lập, không theo Cộng sản trong vài năm để giữ thể diện cho Hoa Kỳ. Còn phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng mong tạm dừng giao tranh để củng cố lực lượng, tiếp tục cuộc chiến, lần này là giữa người Việt với nhau. Vì thế, những điều khoản chính trị của Hiệp định Paris chưa bao giờ được áp dụng, điều này giải thích cho việc giao tranh nhanh chóng tái diễn. Nhưng tôi nghĩ rằng trách nhiệm đầu tiên là từ phía miền Nam Việt Nam, bên vẫn tìm cách đàm phán lại thỏa thuận tháng 10/1972. Khi biết được những điều khoản chính của Hiệp định này từ ngoại trưởng Henry Kissinger, tổng thống Thiệu của Việt Nam Cộng Hòa lúc đó đã bác bỏ ít nhất 70 yếu tố trong Hiệp định và tìm cách đàm phán lại nhưng Hà Nội từ chối. Đây là lý do dẫn đến chiến dịch ném bom Linebacker II, còn được gọi là Giáng sinh chết chóc 1972 và nối lại các cuộc đàm phán vào cuối năm 1972 - đầu 1973 cho đến khi đúc kết vào tháng 01/1973. Nhưng bộ Chính trị của đảng Cộng sản Việt Nam thấy là đã giành được một thành công chiến lược với Hiệp định Paris và biết rằng việc thống nhất sớm muộn cũng nghiêng về phía họ, trong khi chờ đợi thời cơ thuận lợi để tiếp tục chiến tranh. Trong buổi hội thảo được đại sứ quán Việt Nam tổ chức ngày 18/01/2023 tại Paris, người lái xe của bà Nguyễn Thị Bình cho biết là bà đã nói với ông khi rời khỏi cuộc họp quan trọng hồi tháng 01/1973 rằng "từ giờ chuyện sẽ được giải quyết trong gia đình". Bà biết rõ rằng Hiệp định Paris đã mở ra một giai đoạn mới cho cuộc chiến. Và tôi nghĩ là bà cũng biết rằng Hiệp định sẽ không được tôn trọng lâu. Chuyện đó đã xảy ra. Các vụ vi phạm ngừng bắn liên tục gia tăng, chiến tranh tái diễn cho đến năm 1975. RFI : Như ông vừa nói, cho dù có nhiều nỗ lực nhưng phải chờ đến năm 1975 chiến tranh mới chấm dứt ở Việt Nam. Vậy cụ thể, vai trò của Pháp như thế nào trong hai năm đó ?  GS. Pierre Journoud : Đúng, đây là một câu hỏi ít được nghiên cứu cho đến hiện nay. Trên thực tế, Pháp rất năng động cho đến năm 1973 khi Hiệp định Paris được ký kết, thậm chí là sau đó vì còn có một hội nghị quốc tế được tổ chức ở thành phố La Celle-Saint-Cloud, ngoại ô Paris, để góp phần huy động các Nhà nước, các cường quốc về hòa bình ở Việt Nam. Pháp cam kết hỗ trợ đến 100 triệu franc lúc đó cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và cho chính phủ lầm thời ở miền Nam. Có thể thấy Pháp cam kết rất mạnh mẽ và là một trong những nước châu Âu lúc đó đóng góp nhiều nhất cho việc tái thiết Việt Nam, về tài chính, hoạt động công nghiệp, kinh tế... Đó là cam kết trước tiên về mặt kinh tế. Tiếp theo, Pháp luôn theo dõi sát sao tình hình chính trị và quân sự trên thực địa, nhưng có thể nói là một bước thụt lùi so với chính sách của tướng De Gaulle. Trong thâm tâm, tướng De Gaulle đã chấp nhận rằng việc thống nhất Việt Nam diễn ra dưới quyền của đảng Cộng sản bởi vì theo ông, đó là lực lượng quyết tâm nhất, có tổ chức nhất, thông minh nhất. Và lịch sử đã cho thấy ông có lý. Nhưng vấn đề là tháng 06/1969, Georges Pompidou lên nắm quyền thay tướng De Gaulle. Tổng thống Pompidou lại có đường lối khác hơn một chút, ủng hộ duy trì một chế độ ở miền nam Việt Nam. Và đường lối chính trị này dẫn đến một tuyên bố chính thức của ông vào năm 1970 : công nhận 4 Nhà nước ở Đông Dương, theo cách phân khu vực trước đó của Pháp, gồm 2 Nhà nước Việt Nam, Lào và Cam Bốt. Ngành ngoại giao Pháp vẫn cố bám phần nào vào ý tưởng rằng miền Nam Việt Nam không theo Cộng sản vẫn có thể tồn tại. Nhưng tổng thống Pompidou qua đời vì bệnh vào năm 1974, thay thế là Valéry Giscard d'Estaing, người không quan tâm nhiều lắm đến chủ đề này ngay từ đầu. Sau đó, theo diễn biến của cuộc chiến và những chiến thắng liên tiếp của Quân đội Bắc Việt cũng như lực lượng ở miền Nam Việt Nam, ông ngày càng theo hướng ủng hộ một lực lượng trung lập và cố đưa ra một lực lượng thứ 3 không Cộng sản cũng không chống Cộng sản.  Tổng thống Valéry Giscard d'Estaing đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ lực lượng này và cố đưa lên nắm quyền. Lúc đó là tháng 03/1975, cuộc chiến bước vào giai đoạn cuối, quân đội Việt Nam bắt đầu tiếp cận Sài Gòn vào tháng 4. Ngành ngoại giao Pháp hoạt động tích cực trong hậu trường để đưa tướng Dương Văn Minh, còn gọi là "Big Minh", người có lợi thế là trung lập, theo Phật giáo, không phải là Cộng sản và cũng không chống Cộng. Nhưng hoạt động ngoại giao này của Pháp lại quá muộn, nhưng trên hết là tương đối hão huyền, trước sự năng động không thể ngăn cản, không thể lay chuyển của Quân đội Nhân dân Việt Nam và các đơn vị vũ trang của họ ở miền Nam Việt Nam và ở thủ đô của miền Nam lúc đó. Nỗ lực đó đã chấm dứt khi Quân đội Nhân dân Việt Nam toàn thắng thắng ở Sài Gòn ngày 30/04/1975. Cho dù ngành ngoại giao Pháp ủng hộ kế hoạch được tiến hành gần như vào phút chót, đối với tôi, đó là một bước thụt lùi so với những gì được tướng De Gaulle đề ra năm 1965, tức là 10 năm trước đó. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giáo sư Pierre Journoud, Đại học Paul Valéry - Montpellier III
    1/30/2023
    12:42
  • Hoàng Đăng Khoa: Kéo khán giả trẻ đến sân khấu cải lương tuồng cổ
    Làm sao thu hút được khán giả trẻ đến với cải lương, nhất là cải lương tuồng cổ. Đó là điều mà những nghệ sĩ như Hoàng Đăng Khoa, nguyên là diễn viên đoàn Huỳnh Long, đang cố gắng làm cùng với những đồng nghiệp trẻ. Trong chương trình đầu năm Quý Mão, hôm nay mời quý vị theo dõi bài phỏng vấn mà chúng tôi đã thực hiện ngày 05/01/2023 nhân dịp Hoàng Đăng Khoa sang Paris trình diễn.  RFI: Hôm nay RFI rất vui mừng được tiếp chuyện với nghệ sĩ Hoàng Đăng Khoa nhân dịp anh sang Paris để trình diễn. Nguyên là một ca sĩ tân nhạc, nhưng cách đây 10 năm Hoàng Đăng Khoa đã quyết định gia nhập làng nghệ sĩ cải lương. Vì sao Đăng Khoa chọn con đường này, mặc dù biết rằng sân khấu cải lương là một nơi không phải dễ mà lôi cuốn khán giả? HĐK: Em rất vui khi hôm nay gặp lại anh Thanh Phương để  có dịp trò chuyện với quý vị khán thính giả. Với em, chọn cải lương là một điều ngẫu nhiên. Vào năm 2011, em được nghệ sĩ Bình Tinh giới thiệu với nghệ sĩ ưu tú Vũ Linh. Anh là một người cho em nhiều cảm xúc nhất, tới tận bây giờ. Em còn kính trọng và yêu thương anh, vì anh là một người thầy đầu tiên của em, tuy là em chỉ học có 3 ngày. Ba ngày đó đối với em là một tài sản quý giá khi đến với cải lương. Sau ba ngày đó, em mới tổ chức một liveshow để giới thiệu gương mặt Hoàng Đăng Khoa đến với công chúng. Lúc đó, khán thính giả cũng chưa đón nhận em đến với cải lương, vì em là một ca sĩ hát nhạc trẻ.  Em đến với cải lương rất là chông gai, tại em phải học từ đầu, từ điệu bộ, cách ca, cách diễn. Sau 4 năm thì em cũng chật vật với cải lương lắm, vì tình hình sân khấu vào năm 2011 gần như là đóng băng. Tất cả những nghệ sĩ cải lương, nghệ s ĩ con nhà nòi đều phải bỏ nghề để làm những chuyện khác, mà mình lại lao vào để gìn giữ cải lương. Có nhiều người nói em là “con cá lội ngược dòng”. Vào năm 2016 em mới mạnh dạn làm vở cải lương “Giang sang mỹ nhân”. Em được mẹ Bạch Mai cho phép diễn kịch bản này. Em có gặp thầy của em để xin diễn vai Ngô Phù Sai, vai của nghệ sĩ ưu tú Vũ Linh. Em thành công vai đó và được khán giả đón nhận, chấp nhận nghệ sĩ Hoàng Đăng Khoa từ ca nhạc qua.  Em thấy cải lương rất hay, mà lại bị mai một trong thời điểm này, tại sao mình là người trẻ mình không giữ? Lúc đó em mới quy tụ những bạn trẻ để lập một chương trình “Giữ mãi đam mê”. Cứ hai tháng là có một số “ Giữ mãi đam mê”, làm tất cả những vở cải lương vang bóng một thời, đã tạo nên tên tuổi của nghệ sĩ Vũ Linh và em đảm nhận những vai đó của anh. Em may mắn được khán giả đón nhận, từ những vai như Ngô Phù Sai, An Ly Vương, rồi Triệu Tử Long… Đến năm 2018 thì em được mẹ Bạch Mai mời về đoàn cải lương tuồng cổ Huỳnh Long. Từ đó, em cộng tác với nghệ sĩ Bình Tinh, Thái Vinh và tất cả những nghệ sĩ trẻ của đoàn, tạo nên một cơn sốt. Hình như bán vé nào là “full” vé đó. Chúng em cộng tác với nhau tổng cộng là 6 năm. Sáu năm đó là sáu năm mà em hạnh phúc nhất, vì mình được làm nghề, làm những vai diễn mình thích. Đầu năm 2022, em ra riêng, hiện nay là nghệ sĩ tự do, và vẫn giữ bộ môn cải lương này. Có nhiều người hỏi tại sao em chọn cải lương khi cải lương không còn huy hoàng như ngày xưa, thì em chỉ nói một điều: giới trẻ như em nếu không giữ cải lương thì ai giữ đây? RFI: Nhưng cái khó là làm sao lôi kéo được khán giả trẻ đến với cải lương, nhất là cải lương tuồng cổ đòi hỏi những động tác rất là ước lệ, không phải dễ gì mà thu hút khán giả ngày nay, thời đại công nghệ thông tin? HĐK: Trong sáu năm đó, em và nghệ sĩ Bình Tinh đã bàn với nhau là phải làm sao để khán giả trở lại với cải lương. Tụi em mới tính đến trang phục, vì thật sự thời điểm này là thời đại công nghệ, thời đại 4.0, khán giả chỉ cần gõ Youtube là có thể coi được mọi thứ. Tại sao những bộ phim thần tượng của những nước bạn thì khán giả lại yêu thương, mà mình lại không được đón nhận? Tụi em em mới bắt tay vào làm trang phục. Rồi từ cách make up, cách làm tuồng. tụi em làm sao để khán giả gần gũi hơn. Tụi em có một lượng khán giả trẻ đến với cải lương và giữ vững như vậy trong những năm vừa qua. Cứ mỗi lần lên tuồng là đều complet vé. Đó là điều đáng mừng.  Để giữ khán giả trẻ với cải lương thì tụi em phải làm sao để các bạn đến với sân khấu, các bạn thấy :” A, cái anh này diễn sao thấy nó thực tế vậy!”. Tụi em mới đưa võ thuật và vũ đạo vào kết hợp với nhau. Từ trang phục, cách hát, vũ đạo, tụi em không bỏ đi truyền thống của cải lương, nhưng tụi em làm mới nó để khán giả dễ dàng đón nhận hơn.  Ví dụ như là những câu vọng cổ tụi em cắt bớt đi. Chẳng hạn như ngày xưa hát câu 1, câu 2, câu 3, 4, 5, thì từ câu 1 chúng em chuyển ngay qua nhạc, qua một điệu lý, rồi trở lại câu 2… RFI: Tức là phải làm sao cho vở diễn không nhàm chán đối với giới trẻ.  HĐK: Làm như vậy các bạn trẻ ngồi nghe rất là thích, các bạn không bị mệt. Mình phải làm sao để khán giả không buồn ngủ! Tụi em mới đưa tân nhạc vào, đưa những bài tuồng cổ vào,  để khán giả trẻ tiếp nhận dễ dàng hơn và tụi em đã thành công.  Và khi khán giả đã đón nhận tụi em thì khán giả “lập trình”: Mỗi tháng tụi em có một tuồng, thì khán giả “lập trình” ngày đó, giờ đó, đoàn Huỳnh Long sẽ hát những vở tuồng đó. Tập cho khán giả quen với “lập trình” đó là tự động chúng ta có một lượng khán giả riêng đến với cải lương, để mình có thể giữ vững được cải lương tuồng cổ, để nó không bị mai một, mà vẫn được phát triển và lưu truyền.  RFI: Cái khó là phải làm sao dung hòa được giữa một bên là nhu cầu hiện đại hóa bộ nghệ thuật cải lương, và một bên là phải giữ được những nét truyền thống của nghệ thuật này. Như vậy khi Đăng Khoa và các đồng nghiệp trẻ làm các vở tuồng đó thì có gặp sự chỉ trích từ những nghệ sĩ lớn tuổi? Họ có nói rằng các em là như thế là làm biến chất cải lương rồi? HĐK: Lúc đầu tụi em cũng nhận nhiều ý kiến đóng góp từ những cô chú đi trước cũng như là từ khán giả, tích cực cũng có, tiêu cực cũng có. Nhưng tụi em xin là cho tụi em thử nghiệm đi. Khi tụi em thử nghiệm tuồng đầu tiên thì khán giả đón nhận rất nhiều. Các cô chú cũng góp ý là các con phải làm sao để khán giả đừng quên cải lương. Khi mà những vở tuồng đó được diễn liên tục, anh thử tính mỗi tháng một lần mà 6 năm như vậy là bao nhiêu tuồng? Rất là nhiều vở tuồng được phát hiện và được trình diễn, thì các cô chú mới thấy những gì tụi em làm là cho cải lương và tụi em đang đi đúng đường. Tụi em tự làm trang phục, cách hát, cách diễn, cách dàn dựng mang tính điện ảnh hơn. Lúc ấy cô chú mới thấy được : “ À, các con làm đúng”. Tụi em nhận được rất, rất nhiều sự yêu mến và những lời động viên từ các cô chú đi trước. Ví dụ như nghệ sĩ nhân dân Bạch Tuyết, cô ba rất là ủng hộ và khuyến khích là giới trẻ mà, phải làm sao phát huy và giữ giới trẻ đến với cải lương.  Em vừa mới làm liveshow “ Giữ mãi đam mê 8”, kịch bản do em dàn dựng và trên sân khấu em dùng đèn led chỉ là phụ thôi, còn thì chạy cảnh hết và đưa võ thuật vào, thì khán giả đến rất đông, gần một ngàn khán giả trong đêm diễn đó!  RFI: Nhưng còn về kịch bản thì như thế nào? Tại vì nếu diễn mỗi tháng một vở thì làm sao có đủ kịch bản? HĐK: Một điều may mắn đối với tất cả nghệ sĩ đoàn cải lương tuồng cổ Huỳnh Long là có kịch bản của soạn giả Bạch Mai, mà em rất hạnh phúc gọi là “mẹ”. Mẹ có mấy trăm kịch bản, một tài sản quý giá cho đoàn. Đoàn chỉ diễn toàn là kịch bản của mẹ thôi, mỗi tháng một vở và hình như là không diễn lại những vở mà mình đã diễn qua. Ngoài những kịch bản cũ, vang bóng một thời của Bạch Mai, mẹ còn sáng tác riêng cho diễn viên của đoàn những kịch bản mới, luân phiên thay đổi, lồng vào những tình tiết cho gần gũi với khán giả hơn, khán giả đón xem nhiều hơn, lồng vào đó là những điệu nhạc, nên không bị mai một và cũng không gây phản cảm cho khánh giả. Nó vẫn là tính chất cải lương, vẫn là tuồng cổ của soạn giả Bạch Mai, nhưng nó mới, với dàn diễn viên trẻ.  Với em thì kịch bản nào cũng vậy, quan trọng là diễn viên phải nhiệt tình, tích cực, phải luyện tập thì kịch bản mới hay. Diễn viên cải lương cực lắm. Ca sĩ ca nhạc thì chỉ mặc áo veste vào là hát thôi, còn nghệ sĩ cải lương thì trâm cài lược vắt, quần áo, son phấn. Ví dụ như 20 giờ hát thì 15 giờ là đã có mặt rồi, lo phục trang, make up, đầu tóc. Mà đâu phải chỉ có mình không thôi, người đạo diễn, một nhà sản xuất thì phải lo hết cho tất cả nghệ sĩ của đoàn. Nghệ sĩ cải lương thì phải sức khỏe phi thường, rồi thêm trí nhớ và cả tâm làm nghề nữa. Người nghệ sĩ cải lương không có tâm thì không làm cải lương được đâu. Nhiều người nghĩ là vào cải lương để kiếm tiền. Em nói thật: Thời điểm này không có.  Vậy thì người ta có thể hỏi: Không có tiền sao vẫn làm hoài? Nếu mình không làm thì ai làm đây? Thì tụi em phải có hai nghề, nghề tay trái và nghề tay phải, làm sao dung hòa được hai nghề để nuôi cải lương. Nói cải lương của tụi em vang bóng hay nổi trội, thì nó không vang bóng, không nổi trội lắm, nhưng nó vẫn giữ được, vẫn có lửa nhen nhóm, vẫn được khán giả đón nhận là đã quá mừng rồi! Bản thân em là một người trẻ thì em mong những người trẻ như em phải yêu cải lương nhiều hơn. RFI: Cũng theo hướng kéo khán giả trẻ đến với sân khấu cải lương, thì hiện nay chúng ta ở trong thời đại công nghệ thông tin, thời đại 4.0. Phương tiện mà giới trẻ hiện nay tìm đến nghệ thuật là qua Internet, nhất là qua các kênh Youtube. Đăng Khoa và các đồng nghiệp lên Youtube như thế nào để thu hút khán giả trẻ? HĐK: Ngoài việc đưa khán giả đến với sân khấu để xem hàng đêm, hàng tuần, em cũng như các đồng nghiệp còn đưa các khán giả xem trên Youtube. Khán giả cứ gõ vào kênh “Cải lương tuồng cổ” thì sẽ thấy được những vở diễn kinh điển. Ngoài những vở kinh điển dài, còn có những trích đoạn cải lương để khán giả xem từng đoạn, từng đoạn, để khán giả thấy những hình ảnh ngày xưa qua sự biểu diễn của những người trẻ, trong đó có em, Hoàng Đăng Khoa. Em nghĩ đây là một điểm sáng văn hóa cho nghệ thuật Việt Nam, để nghệ thuật Việt Nam được khán giả mọi nơi không thể xem trực tiếp trên sân khấu tại quê nhà thì có thể xem trên kênh Youtube “ Cải lương tuồng cổ” để thấy được những kịch bản vang bóng một thời, đã được những nghệ sĩ đi trước biểu diễn thành công và sau này lớp trẻ tiếp bước để giữ vững bộ môn nghệ thuật cải lương tuồng cổ Việt Nam.  RFI: Nay Hoàng Đăng Khoa đã tách riêng làm nghệ sĩ độc lập. Trong thời gian tới Đăng Khoa có những dự án gì mới để tiếp tục con đường đã chọn? HĐK: Hiện nay em đang là đại sứ thương hiệu cho công ty dược Việt Y. Công ty đang đứng ra dàn dựng cho em những công trình tiếp nối “ Giữ mãi đam mê” của em. Mới vừa hoàn thành liveshow “ Giữ mãi đam mê 8” với chủ đề “ Nàng Thơ”. Vào ngày 9 và 10/01 này em sẽ về quay kịch bản mới của soạn giả Thanh Tòng. Cho dù là ở đoàn hay tách ra thì em cũng vẫn là nghệ sĩ, vẫn là người đang giữ lửa cho cải lương, vẫn cố gắng gìn giữ những tác phẩm được giao. Bản thân em không chỉ là nghệ sĩ mà còn là một đạo diễn trẻ, phát huy nền cải lương của Việt Nam không có gì khó, quan trọng là mình có làm hay không thôi. Em đang có những dự án đi hết mọi nơi đem cải lương đến phục vụ khán giả trong và ngoài nước.
    1/23/2023
    11:48
  • 2022 : Năm bội thu cho xuất khẩu gạo Việt Nam
    Việt Nam, nước xuất khẩu gạo lớn thứ ba trên thế giới sau Thái Lan và Ấn Độ, đạt kỷ lục về xuất khẩu gạo trong năm 2022 : gần 7,2 triệu tấn, thu về khoảng 3,49 tỉ đô la nhờ được mùa và giá gạo tăng trên thế giới. Tháng 10/2022 là tháng kỷ lục trong lịch sử ngành gạo Việt Nam, đạt 713.546 tấn, trị giá hơn 341 triệu đô la, tăng 22,3% về lượng và tăng 23,9% về giá trị so với tháng 09 trước đó. Đông Nam Á, thị trường lớn nhất của Việt Nam Đông Nam Á vẫn là thị trường lớn của Việt Nam, trong đó bốn nhà nhập khẩu quan trọng là Philippines, Malaysia, Singapore và Indonesia. Philippines là khách hàng lớn nhất, chiếm 44,9% tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Indonesia, thị trường lớn thứ tư của Việt Nam, đang được các nhà xuất khẩu gạo cố nhắm đến sau khi chính quyền Jakarta thông báo nhập 500.000 tấn gạo cho kho dự trữ, sau ba năm không phải mua gạo nước ngoài. Năm 2022 cũng đánh dấu « bội thu » cho doanh thu xuất khẩu gạo vì giá gạo trên thế giới tăng. Xu hướng này, cũng như nhu cầu nhập khẩu của nhiều nước, sẽ còn tăng trong thời gian tới, trong bối cảnh Ấn Độ đang cấm xuất khẩu gạo 100% và đánh thuế gạo trắng 20% để bảo đảm an ninh lương thực trong nước, Giới chuyên gia nhận định đây là một cơ hội cho ngành xuất khẩu gạo Việt Nam trong những tháng cuối năm, nâng tổng lượng xuất khẩu lên mức kỷ lục, được thẩm định là trên 7 triệu tấn. Trả lời RFI Tiếng Việt, tiến sĩ Dương Văn Ni, chủ tịch kiêm giám đốc Quỹ Bảo tồn Mekong (Mekong Conservancy Foundation, MCF), giải thích về thành công này : « Con số Việt Nam xuất khẩu được khoảng 7 triệu tấn gạo trong năm 2022 có thể được giải thích qua mấy lý do. Lý do thứ nhất, năm nay, mực nước từ đầu nguồn về không nhiều, cho nên đe dọa về lũ lụt không lớn. Lý do thứ hai là sau 2, 3 năm nay, năm vừa rồi đặc biệt có thể được coi là năm mưa thuận gió hòa, không có bão tố lớn, nên khu lúa trổ bông đã không bị lép nên được mùa. Lý do thứ ba là sau dịch Covid, có rất nhiều người, đặc biệt là những người rời quê đi làm ăn xa ở những khu công nghiệp như Bình Dương, Sông Bé, thành phố Hồ Chí Minh, bị thất nghiệp, nói đúng hơn là không có việc làm, nên họ ở nhà. Nhờ đó mà có được nguồn lao động trực tiếp trên đồng ruộng đầy đủ. Với ba lý do đó, cộng thêm giá cả nên đã đẩy năng suất lúa cao hơn mọi năm ». Gạo Việt Nam chinh phục những thị trường khó tính Ngoài khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc là khách hàng gạo lớn thứ hai của Việt Nam, chiếm 12% tổng lượng xuất khẩu và Bờ Biển Ngà, đứng thứ ba chiếm 9%. Nhờ vào nhiều hiệp định thương mại được Hà Nội ký kết, gạo của Việt Nam thâm nhập vào nhiều thị trường mới. Ví dụ các thị trường trong khuôn khổ Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện khu vực (RCEP) và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTTP) tăng lần lượt là 17% và 31,5% về lượng trong 11 tháng đầu năm 2022. Tiếp theo, nhờ Hiệp định tự do Thương mại EVFTA mà lần đầu tiên, gạo “made in Vietnam” mang thương hiệu riêng được xuất sang châu Âu vào năm 2022. Thị trường nổi tiếng khó tính này vẫn còn rất nhiều tiềm năng cho Việt Nam vì Bruxelles cấp cho Việt Nam hạn ngạch xuất khẩu 80.000 tấn gạo mỗi năm với mức thuế 0% (gồm 30.000 tấn gạo xay xát, 20.000 tấn gạo chưa xay xát và 30.000 tấn gạo thơm). Ngoài ra, Liên Âu cũng tự do hóa hoàn toàn đối với gạo tấm nên hàng năm, Việt Nam có thể xuất khẩu khoảng 100.000 tấn vào khối 27 nước. Trong năm 2022, người tiêu dùng châu Âu bắt đầu biết đến một số loại gạo mới, thơm ngon, chất lượng cao của Việt Nam. Ví dụ gạo ST24, ST25, Com Vietnam Rice được bán tại nhiều siêu thị của cộng đồng người Việt, cũng như ở một số siêu thị lớn như Leclerc, Carrefour. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang tìm cách phát triển thị phần loại gạo chất lượng cao này ở châu Âu, không chỉ đầu tư vào mạng lưới kho bãi, nhà máy hiện đại, mà còn hợp tác với nhiều địa phương để phát triển những vùng trồng lúa chất lượng cao, chuyên xuất khẩu sang thị trường châu Âu và Mỹ. Tiến sĩ Dương Văn Ni giải thích tiếp về thành công về chất lượng gạo : « Thứ nhất là định hướng từ nghị quyết 120 của Chính phủ định hướng chuyển nền nông nghiệp từ chỉ tiêu sản nhiều về số lượng thành nền nông nghiệp tập trung vào chất lượng. Đây là một định hướng rất lớn. Riêng trong bộ Nông Nghiệp cũng đang xoáy mạnh vào hiệu quả của sản xuất nông nghiệp, chứ không phải sản lượng nữa. Cho nên, không chỉ có một giống lúa ST24, ST25, mà hiện nay nhiều vùng, nhiều nơi đang tập trung tuyển chọn, đánh giá lại chất lượng của hạt gạo. Hai giống ST24, ST25 của kỹ sư nông nghiệp Hồ Quang Cua phù hợp cho những vùng duyên hải, bị ảnh hưởng một chút nước mặn. Hai giống đó có chất lượng rất thơm, ngon. Nhưng riêng với những vùng nằm sâu bên trong, người ta cũng đang tuyển lựa những giống khác, có đặc tính thơm ngon không thua kém gì ST24, ST25. Tôi thấy rằng chuyển dịch của Nhà nước, hay đúng hơn là định hướng của bộ Nông Nghiệp từ sản xuất nhiều gạo chuyển qua sản xuất gạo có chất lượng ngon nhất, đang có chuyển biến rất tích cực. Tôi tin chắc rằng trong thời gian ngắn, một vài năm tới, những loại gạo ngon của Việt Nam có thể xuất hiện tương đối phổ biến trên thị trường thế giới hơn ». Định hướng mở rộng thị trường thế giới Hiện tại, đồng bằng sông Cửu Long dành 1 triệu hecta để trồng lúa chuyên canh chất lượng cao, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính. Đây là đề án sản xuất bền vững, nằm trong Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn bền vững 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Lượng gạo thơm xuất sang Liên Hiệp Châu Âu được hưởng hạn ngạch ưu đãi về thuế quan là 30.000 tấn, tương đương với 1,2% lượng gạo thơm sản xuất trong vùng, cho nên, theo báo Thương gia ngày 09/09, tiềm năng xuất khẩu gạo thơm còn rất lớn. Để đáp ứng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của Liên Hiệp Châu Âu, ngành lúa gạo Việt Nam đang đi theo hướng sạch, bền vững. Trong nghiên cứu công bố tháng 08/2022 về ngành lúa gạo Việt Nam 2022-2031, hãng nghiên cứu thị trường Research and Markets của Mỹ đánh giá hiệp định tự do thương mại với Liên Âu, có hiệu lực từ ngày 01/08/2020, đã giúp xuất khẩu gạo Việt Nam nhanh chóng khởi sắc, tăng cả về lượng và về giá. Cụ thể, « nhờ ưu đãi về thuế, gạo Việt Nam được xuất sang thị trường châu Âu nhiều hơn. Trước khi EVFTA có hiệu lực, giá gạo ST20 và gạo Jasmine xuất sang Liên Hiệp Châu Âu lần lượt là 800 đô la và 520 đô la/tấn, trong khi hiện nay giá lần lượt trên 1.000 đô la và 600 đô la. Theo phân tích của chuyên gia, có ba nguyên nhân giúp giá gạo Việt Nam tăng.  Thứ nhất, chính phủ đã ban hành đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, theo đó điều chỉnh mạnh cơ cấu lúa gạo, thay đổi trình độ canh tác lúa, tức là chú trọng nâng cao chất lượng gạo hơn là tăng sản lượng. Năm 2015, giống lúa chất lượng của Việt Nam chỉ chiếm 35% - 40% tổng lượng giống, trong khi năm 2020, con số này đạt 75% - 80%, thậm chí có nơi tỷ lệ sử dụng giống lúa chất lượng cao tới 90%. Thứ hai, Việt Nam đã ký nhiều hiệp định tự do thương mại (EVFTA, RCEP, CPTTP) tạo điều kiện cho xuất khẩu gạo của Việt Nam bứt phá. Thứ ba, nhiều ngành hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 trong năm 2020 nhưng nhu cầu thị trường về thực phẩm không giảm. Các nhà phân tích báo cáo rằng xuất khẩu gạo của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng cả về lượng và giá trị trong giai đoạn 2022-2031 ». Theo đuổi chiến lược tăng giá trị gạo là ưu tiên của Việt Nam trong thời gian tới để duy trì lợi thế về chất của gạo Việt Nam trên thị trường thế giới, theo phát biểu của ông Trần Thanh Hải, phó cục trưởng Cục Xuất Nhập khẩu, bộ Công Thương. Và để thực hiện mục tiêu này, thủ tướng Phạm Minh Chính đã yêu cầu bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn lập dự án sản xuất gạo chất lượng cao ở đồng bằng sông Cửu Long, chủ yếu ở các tỉnh Đồng Tháp, Long An, An Giang, Kiên Giang và Cần Thơ. Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 50% sản lượng gạo và chiếm đến 95% khối lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam.  Ngoài ra, chính phủ Việt Nam cũng đẩy mạnh hợp tác với các nhà nghiên cứu nước ngoài. Theo báo Vietnam Plus ngày 25/11, nhân chuyến công du Philippines của chủ tịch Quốc Hội Vương Đình Huệ, bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Lê Minh Hoan đã thăm Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) ở Los Banos, Philippines. Hiện Viện IRRI chủ trì 8 chương trình nghiên cứu chính của Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế One CGIAR với Việt Nam. Kế hoạch khung hợp tác cho giai đoạn 2023-2025 tầm nhìn đến 2030 được hai bên thống nhất ký vào năm 2023.
    1/16/2023
    9:26
  • Việt Nam cố giữ trung lập giữa Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên
    Năm 2023, Bắc Triều Tiên có thể sẽ thử lại vũ khí hạt nhân, sau khi bắn 70 tên lửa đạn đạo suốt năm 2022, trong đó có tên lửa liên lục địa ICBM có thể bắn đến lãnh thổ Mỹ. Hàn Quốc cũng dự kiến « tập trận hạt nhân chung » với Hoa Kỳ. Những dấu hiệu gần đây cho thấy bán đảo Triều Tiên khó có được một năm yên bình. Hà Nội duy trì mối quan hệ tốt với cả hai miền Triều Tiên, nhưng thiên về Hàn Quốc trong lĩnh vực trao đổi thương mại thời gian gần đây. Trong chuyến công du Hàn Quốc của chủ tịch Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc (04-06/12/2022), hai nước đã ký 24 tài liệu hợp tác, tổng trị giá khoảng 15 tỉ đô la. Việt Nam cũng vượt qua Hồng Kông, đứng đầu các nước nhập siêu nhiều nhất từ Hàn Quốc, với thặng dư mậu dịch là 34,25 tỉ đô la trong năm 2022. Việt Nam từng đứng ra làm trung gian khi tổ chức thượng đỉnh Donald Trump - Kim Jong Un tại Hà Nội năm 2019 nhằm hạ nhiệt trên bán đảo Triều Tiên. Tuy nhiên, tình hình trở nên căng thẳng hơn trong năm 2022, « khả năng giải trừ hạt nhân Bắc Triều Tiên gần như đã biến mất », theo nhà cựu ngoại giao Mỹ Evans Revere. Bối cảnh mới trên bán đảo Triều Tiên đặt Việt Nam vào thế khó xử không ? Hà Nội có thể tiếp tục giữa vai trò nào đó giúp giảm căng thẳng giữa hai miền Triều Tiên ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nhà nghiên cứu Vũ Xuân Khang, trường Đại học Boston (Boston College), Hoa Kỳ.  RFI : Việt Nam duy trì quan hệ với Bắc Triều Tiên, nhưng cũng có quan hệ ngày càng chặt chẽ về kinh tế, thương mại và ngoại giao với Hàn Quốc. Mối quan hệ này chuyển biến như thế nào trong thời gian qua ?   Vũ Xuân Khang : Quan hệ Việt Nam - Bắc Triều Tiên là một trong những mối quan hệ truyền thống lâu đời nhất của Việt Nam nhưng đã bị lãng quên trong một thời gian rất dài, cho đến thượng đỉnh Hà Nội vào năm 2019.  Bắc Triều Tiên là một trong ba nước đầu tiên công nhận chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (chính quyền Bắc Việt Nam) là chính quyền hợp pháp duy nhất của Việt Nam vào năm 1950. Trong những năm sau đó, đặc biệt là mối quan hệ thân tình giữa chủ tịch Kim Nhật Thành và chủ tịch Hồ Chí Minh, hai nhà lãnh đạo đã có những cam kết rất sâu sắc. Thứ nhất, vào năm 1956 và 1958, hai nhà lãnh đạo đã đồng ý rằng Việt Nam và Bắc Triều Tiên đều là hai nước xã hội chủ nghĩa anh em và nhiệm vụ của hai nước là cùng giúp nhau xây dựng chủ nghĩa xã hội ở hai miền Bắc ở mỗi nước.   Điểm quan trọng thứ hai, một điều mà không có nhiều sử sách Việt Nam ghi lại, là chủ tịch Kim Nhật Thành đã rất quan tâm đến chiến sự ở Việt Nam. Ông đã đặt quan điểm với chính quyền Hà Nội là cho Bắc Triều Tiên gửi quân đội qua Việt Nam như cách mà Hàn Quốc gửi quân đội để trợ giúp Việt Nam Cộng hòa trong chiến tranh. Nhưng chính quyền Hà Nội đã từ chối lời đề nghị này và chỉ chấp nhận là Bắc Triều Tiên cử phi công để giúp Bắc Việt Nam bảo vệ bầu trời Hà Nội.   Tuy nhiên, mối quan hệ thân tình giữa Bắc Việt Nam và Bắc Triều Tiên sau năm 1975 đã hoàn toàn sụp đổ khi nước Việt Nam thống nhất đã có những động thái để dằn mặt Khmer Đỏ, trong khi Bắc Triều Tiên lại là một đồng minh rất thân cận của Khmer Đỏ. Chính vì thế, từ năm 1979 đến 1989, Việt Nam và Bắc Triều Tiên thực sự lại là kẻ thù của nhau trong chính trường của châu Á : Việt Nam thuộc phe Liên Xô còn Bắc Triều Tiên lại ngả về phe Trung Quốc. Đặc biệt vào năm 1979 khi Việt Nam bị Trung Quốc tấn công, Bình Nhưỡng đã giữ im lặng, thậm chí còn ủng hộ Khmer Đỏ, gửi vũ khí, cố vấn quân sự qua Cam Bốt để giúp chống lại quân đội Việt Nam trong suốt những năm 1980. Vào cuối những năm 1980, sau khi quyết định rút quân khỏi Cam Bốt, Việt Nam đã có những động thái để nối lại bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Bắc Triều Tiên. Hai nước đã hoàn toàn có thể nối lại quan hệ thân tình ngay ngày xưa nhưng do kinh tế Bắc Triều Tiên ngày càng đi xuống vào cuối những năm 1980, trong khi Việt Nam lại đang mở cửa kinh tế nên rất cần vốn đầu tư nước ngoài. Hàn Quốc đã trỗi dậy, trở thành một nước châu Á hoàn toàn có thể giúp đỡ Việt Nam cải tổ kinh tế. Việt Nam đã nhìn sang ví dụ của Trung Quốc khi nước này cũng đã nối lại ngoại giao với Hàn Quốc và từ bỏ liên minh ủng hộ Bắc Triều Tiên. Việt Nam đã sẵn lòng đình chỉ một số trao đổi kinh tế lớn với Bắc Triều Tiên và quay hướng sang Hàn Quốc. Chính điều này đã khiến Bắc Triều Tiên phật lòng và không ngần ngại gọi cả Việt Nam lẫn Trung Quốc là « những kẻ phản bội xã hội chủ nghĩa ».  Xuyên suốt những năm 1990, Bắc Triều Tiên và Việt Nam đã hoàn toàn không có bất kỳ cuộc trao đổi ngoại giao cấp cao nào. Việt Nam thậm chí còn đòi nợ Bắc Triều Tiên khi nước này không thể hoàn trả số tiền mua gạo từ Việt Nam. Tuy nhiên, đầu những năm 2000, đã có một số chỉ dấu cho thấy Bắc Triều Tiên muốn nối lại quan hệ ngoại giao với Việt Nam khi nước này cũng muốn được cải tổ kinh tế theo đường lối mà Việt Nam và Trung Quốc đã đi. Và cho đến thượng đỉnh năm 2019, Việt Nam và Bắc Triều Tiên đã nối lại một số trao đổi ngoại giao giữa hai bên nhằm mục đích để Việt Nam trở thành một ví dụ hướng dẫn Bắc Triều Tiên cải tổ kinh tế của nước này.   Việt Nam dù đã ưu tiên quan hệ kinh tế với Hàn Quốc hơn nhưng không từ bỏ quan hệ truyền thống với Bắc Triều Tiên. Có thể thấy rằng mặc dù quan hệ giữa Việt Nam và Bắc Triều Tiên trong những năm gần đây đã nồng ấm hơn nhưng quan hệ giữa hai nước sẽ không trở lại như trong thời kỳ Chiến tranh lạnh.  RFI : Quan hệ căng thẳng giữa hai miền Triều Tiên đặt Hà Nội vào thế khó xử như thế nào ? Việt Nam có ngả theo một trong hai bên ?   Vũ Xuân Khang : Việt Nam là một trong những nước trung lập đối với quan hệ hai miền Nam-Bắc Triều Tiên. Có thể thấy thượng đỉnh Hà Nội năm 2019 cho thấy Việt Nam hoàn toàn không bị đặt vào thế khó xử khi Việt Nam vừa có quan hệ hữu hảo với miền Bắc vừa có quan hệ tốt với miền Nam. Việt Nam hoàn toàn có thể sử dụng vị thế là một nước trung lập để tạo điều kiện cho hai miền có những trao đổi về ngoại giao khi mà hai miền Triều Tiên rất khó có thể tìm được một tiếng nói chung. Theo tôi, Việt Nam không hề bị đặt vào thế khó xử, nhất là khi Bắc Triều Tiên đã dần dần chấp nhận Việt Nam là một nước kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và sẽ ưu tiên quan hệ kinh tế với Hàn Quốc hơn là quan hệ chính trị với Bắc Triều Tiên.   RFI : Việt Nam từng được kỳ vọng làm trung gian, mô hình phát triển để Bình Nhưỡng hướng theo. Liệu Bắc Triều Tiên còn có khả năng mở cửa giống như Việt Nam ?   Vũ Xuân Khang : Có nhiều ý kiến cho rằng mô hình của Việt Nam là một mô hình cải cách rất tốt cho Bắc Triều Tiên, nhất là khi cả hai nước có cùng lịch sử. Và về diện tích, địa lý, cả hai nước cũng khá tương đồng do là những nước nhỏ, cùng sát sườn với Trung Quốc. Đặc biệt, nếu chúng ta để ý những cuộc trao đổi ngoại giao giữa Việt Nam và Bắc Triều Tiên sau những năm 2000 trở lại đây, hai bên đã đề cập rất nhiều về cải cách kinh tế đối với Bắc Triều Tiên.  Tuy nhiên, theo tôi, rất khó để Bắc Triều Tiên có khả năng mở cửa giống như Việt Nam. Nếu nhìn vào lịch sử Việt Nam kể từ khi đất nước được thành lập năm 1945, Việt Nam đã không cải cách kinh tế cho đến khi giải quyết được những vấn đề an ninh nổi cộm. Đặc biệt trong những năm kháng chiến chống Mỹ, chính quyền miền bắc Việt Nam đã có một cuộc thảo luận rất lớn ở trung ương : Liệu miền Bắc Việt Nam có nên hỗ trợ cho miền Nam để chống Mỹ hay đặt ưu tiên phát triển kinh tế cho miền Bắc ? Lúc đó, miền Bắc đã thống nhất là nên ưu tiên đánh đuổi Mỹ ra khỏi Việt Nam bởi vì lúc đó, ưu tiên cho an ninh quan trọng hơn là ưu tiên về kinh tế.   Trong suốt những năm 1970-1980, Việt Nam đã có những cải cách về kinh tế nhưng những cải cách nhỏ lẻ đó hoàn toàn không phải là quyết tâm theo đuổi mô hình kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa như hiện nay, do Việt Nam phải đầu tư rất nhiều cho quân đội và không thể tạo được lòng tin với các nhà đầu tư quốc tế rằng Việt Nam sẽ không trở thành một nước quân sự ở châu Á. Chính vì thế, mặc dù Việt Nam đã mở cửa kinh tế vào năm 1986, sau khi cố gắng bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, nhưng Việt Nam đã không thể nào kêu gọi được vốn từ nước ngoài do các chuyên gia đánh giá Việt Nam vẫn là một nước rủi ro cao khi Việt Nam chưa hoàn toàn rút quân khỏi Cam Bốt. Chỉ sau khi Việt Nam tự tin rằng an ninh quốc gia đã được đảm bảo và rút quân khỏi Cam Bốt năm 1989 và bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc vào năm 1991 thì Việt Nam mới thực sự gặt hái được thành quả của cải tổ kinh tế khi có được nguồn vốn từ nước ngoài.   Nếu so sánh bài học như vậy thì hiện nay, Bắc Triều Tiên hoàn toàn chưa có mong muốn từ bỏ vũ khí hạt nhân và mở cửa kinh tế. Bởi vì, đối với Bắc Triều Tiên, vũ khí hạt nhân là thanh kiếm rất quý giá để bảo vệ an toàn của chế độ và Bình Nhưỡng sẽ luôn luôn ưu tiên bảo vệ chế độ hơn là cải tổ kinh tế. Một bài học rất lớn, đó là vào năm 1990 khi kinh tế Bắc Triều Tiên chạm đáy và có những nạn đói giết đến gần 2 triệu người, nước này vẫn càng quyết tâm ưu tiên bảo vệ an ninh của chế độ hơn là kinh tế của đất nước. Do đó, có thể đoán được rằng chừng nào Bắc Triều Tiên còn gặp phải những vấn đề an ninh rất lớn, khi mà Hàn Quốc vẫn tồn tại và Mỹ vẫn đe dọa đến chế độ Bắc Triều Tiên, thì nước này vẫn sẽ không mở cửa kinh tế.   Những cuộc trao đổi về mở cửa kinh tế hiện nay với Việt Nam và Trung Quốc là những chỉ dấu Bắc Triều Tiên mong cải tổ kinh tế. Nhưng ưu tiên cải tổ kinh tế này sẽ không bao giờ quan trọng hơn ưu tiên bảo vệ chế độ chính trị của Bắc Triều Tiên.   RFI : Như vừa đề cập ở trên, Việt Nam tổ chức thượng đỉnh Mỹ-Bắc Triều Tiên tại Hà Nội vào năm 2019. Việt Nam từng kỳ vọng làm giảm căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên, cũng như giúp làm giảm căng thẳng giữa Mỹ và Bắc Triều Tiên. Việt Nam còn giữ được vị thế đó ?  Vũ Xuân Khang : Mặc dù thượng đỉnh là Hà Nội là một thất bại khi mà Mỹ và Bắc Triều Tiên đã không có bất kỳ tuyên bố chung nào. Nhưng để nhìn qua một góc nhìn khác, thượng đỉnh đó vẫn là một thành công lớn cho Việt Nam vì Việt Nam đã tổ chức thành công một sự kiện tầm cỡ quốc tế và khẳng định vai trò trung lập của Việt Nam trên trường quốc tế.   Một nước khác, giống như Việt Nam, vào đầu những năm 2000, đó là Mông Cổ, cũng đã có vai trò rất lớn khi nước này trở thành chủ nhà cho rất nhiều cuộc đàm phán liên Triều. Tuy nhiên, Mông Cổ đã không giữ được vị thế đó, do Mông Cổ đã không chủ động lợi dụng vị thế của đất nước sau những cuộc họp thượng đỉnh cấp cao như vậy để tăng niềm tin đối với các nước trên thế giới. Theo ý kiến của tôi, thượng đỉnh Hà Nội 2019 là một bước đệm rất lớn để Việt Nam có thể tiếp tục tổ chức những sự kiện tầm cỡ quốc tế khác. Tuy nhiên, thành công rất lớn trong tương lai phụ thuộc vào ngành ngoại giao Việt Nam có trở nên chủ động hay không, hay là vẫn tiếp tục chỉ là một thành viên nhỏ trên diễn đàn ngoại giao thế giới. Và một nguyên nhân khác, việc Việt Nam có thể tiếp tục trở thành một nước trung lập và chủ nhà cho các cuộc đàm phán liên Triều trong tương lai hay không, phụ thuộc rất lớn vào quan hệ ngoại giao giữa Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc, cũng như giữa Bắc Triều Tiên và Mỹ. Nếu Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc, cũng như Bắc Triều Tiên và Mỹ vẫn tiếp tục có những thái độ khiêu khích và những thái độ không tốt với nhau như hiện giờ, thì kể cả Việt Nam có mở rộng vòng tay để đón những nước này trở lại Việt Nam tham gia thượng đỉnh 2.0 đi chăng nữa, điều này cũng sẽ rất khó. Nhưng theo tôi, ngoại giao Việt Nam hoàn toàn có thể sử dụng bàn đạp của thượng đỉnh Hà Nội 2019 để tiếp tục tổ chức được những sự kiện lớn, tầm cỡ trong tương lai.   RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Vũ Xuân Khang, Trường đại học Boston, Hoa Kỳ.
    1/9/2023
    10:20
  • Covid: Dù Trung Quốc mở cửa, dịch khó bùng phát mạnh ở Việt Nam
    Trung Quốc nay đã từ bỏ hoàn toàn chính sách “zero-Covid”, mở cửa trở lại với thế giới bên ngoài, cụ thể là kể từ ngày 08/01/2023 sẽ không còn áp dụng biện pháp cách ly bắt buộc đối với những người nhập cảnh vào Trung Quốc, đồng thời người dân Trung Quốc sẽ được tự do ra nước ngoài.  Tác động kinh tế Việc Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sẽ mở cửa trở lại hoàn toàn vào quý 2/2023 là một thông tin tích cực cho toàn thế giới nói chung và cho Việt Nam nói riêng, nhất là các doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm sang Trung Quốc với số lượng lớn sẽ được hưởng lợi. Việc nới lỏng các biện pháp chống Covid-19 của Trung Quốc sẽ có tác động tích cực đến thương mại toàn cầu và giúp tái khởi động chuỗi cung ứng bị gián đoạn. Nhiều hãng hàng không đã thông báo nối lại đường bay giữa Trung Quốc và Việt Nam, thúc đẩy ngành du lịch của Việt Nam cũng như giao thương giữa Việt Nam và Trung Quốc. Theo tập đoàn quản lý đầu tư VinaCapital, việc Trung Quốc mở cửa trở lại sẽ giúp kích thích tăng trưởng của Việt Nam vào năm 2023, vì nước này là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam và là thị trường du lịch  lớn nhất của Việt Nam. Trong báo cáo mới công bố, ông Michael Kokalari, Chuyên gia Kinh tế trưởng của VinaCapital, dự báo việc Trung Quốc mở cửa trở lại sẽ thúc đẩy tăng trưởng GDP của Việt Nam hơn 2% vào năm tới, do lượng khách du lịch Trung Quốc trở lại vào nửa cuối năm 2023. Riêng về mặt giáo dục, theo tờ vnExpress, nhiều sinh viên Việt Nam du học ở Trung Quốc đã thở phào nhẹ nhõm khi nghe tin Trung Quốc sắp mở cửa trở lại, bởi vì trong gần 3 năm qua, nhiều người trong số họ đã phải học trực tuyến với rất nhiều khó khăn, áp lực, còn những ai vẫn sang Trung Quốc để tiếp tục học thì phải gánh những khoản chi phí rất lớn cho vé máy bay, cho cách ly tập trung … Tuy nhiên, phải chờ thêm một thời gian để thấy rõ hơn tác động của việc Trung Quốc mở cửa trở lại đối với nền kinh tế thế giới và hiện vẫn chưa biết các chính sách của Trung Quốc sẽ như thế nào sau thời kỳ hậu "zero- Covid". Lo ngại dịch lây lan Nhưng Trung Quốc mở cửa trở lại đúng vào lúc mà tại quốc gia 1,4 tỷ dân này số ca nhiễm Covid-19 đang bùng nổ, có thể đã lên đến hàng chục triệu, thậm chí hàng trăm triệu ca. Trước tình hình đó, nhiều nước trên thế giới, như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Ý… đã thông báo những biện pháp hạn chế đối với các hành khách đến từ Trung Quốc, cụ thể là xét nghiệm Covid-19 và cách ly bắt buộc đối với họ, nhằm ngăn chặn dịch bệnh từ Hoa lục lây lan sang.  Riêng đối với Việt Nam, về mặt kinh tế, Trung Quốc mở cửa trở lại có nghĩa là giao thương giữa hai nước sẽ dần trở lại bình thường, nhất là ngành du lịch sẽ đón tiếp trở lại lượng du khách Trung Quốc, vốn chiếm đông nhất trong tổng số du khách quốc tế.  Nhưng vấn đề đặt ra là với lượng du khách Trung Quốc sẽ ồ ạt đổ sang, có nguy cơ là dịch Covid sẽ lại bùng phát mạnh ở Việt Nam hay không? Theo các chuyên gia dịch tễ học, như bác sĩ Trương Hữu Khanh, nguyên Trưởng khoa Nhiễm thần kinh, Bệnh viện Nhi đồng 1, Phó chủ tịch Liên chi hội truyền nhiễm TP Hồ Chí Minh, Việt Nam có một mức độ miễn dịch cao, nên không lo ngại lắm. Theo thống kê chính thức, cho đến nay Việt Nam đã tiêm gần 265,5 triệu liều vac-xin Covid-19, chích đủ ba mũi cho gần 80% dân số trên 18 tuổi: “ Quan trọng là mức độ miễn dịch của Việt Nam. Độ miễn dịch ở Việt Nam khi làm xét nghiệm thử một vài vùng đã đạt được đến hơn 90%. Việt Nam cũng đã trải qua một thời gian ứng phó với Omicron. Nếu Omicron biến thể mà vẫn là trong một nhánh của Omicron thì không đáng lo đối với một nước có mức độ miễn dịch cao như vậy.   Còn sự xuất hiện của một biến thể khác theo tôi thì rất là khó, tại vì Trung Quốc tuy họ đóng cửa, nhưng họ cũng có bị nhiễm, họ cũng có Omicron. Tác nhân của dịch bệnh hiện nay ở Trung Quốc cũng là một nhánh của Omicron thôi. Nếu một biến thể nhẹ của Omicron xâm nhập vào Việt Nam, với mức độ miễn dịch của Việt Nam, tỷ lệ chích mũi 3 cao, thì cũng không đến nổi phải quá sức lo lắng như những nước khác. Với một nền miễn dịch như vậy thì cũng không cần thiết phải làm một cái gì thật dữ dội. Chỉ những nước nào mà nền miễn dịch còn kém và đặc biệt là dân số lớn tuổi mà miễn dịch nền  cũng kém, thì mới đáng lo ngại.” Nguy cơ xuất hiện biến thể mới Sự bùng nổ số ca nhiễm ở Trung Quốc hiện nay chính là do biến thể BF.7, một biến thể của Omicron BA.5. Theo các chuyên gia, BF.7 có chỉ số R0 (tỷ lệ sinh sản của virus) từ 10 đến 18,6, có nghĩa là một người bị nhiễm sẽ truyền virus cho từ 10 đến 18,6 người khác. Đây là một tỷ lệ lây nhiễm cực cao, so với mức R0 từ 6 đến 7 của biến chủng Delta, 5,08 đối với biến thể Omicron hay 3 của chủng   gốc SARS-CoV-2.  Do có tốc độ lây lan nhanh chóng như vậy, biến thể BF.7 có thể gây ra mối đe dọa mới trên toàn thế giới hay không? Đáng lo ngại hơn nữa, từ Trung Quốc có sẽ xuất hiện một biến thể nào khác với Omicron hay không? Đối với bác sĩ Trương Hữu Khanh, trước mắt, biến thể mới ở Trung Quốc chưa đáng ngại lắm: “ Nếu nói về một tỷ lệ lây mà có thể dẫn đến một biến thể lạ hơn nữa, thì tốc độ lây lan ở những nước khác hiện nay vẫn là do Omicron, ví dụ như hiện nay có một vài nước, sau khi có Omicron cũng có những đợt sóng với số ca bệnh rất cao, nhưng vẫn không có biến thể khác với Omicron, tức là một bậc cao hơn Omicron, với những thay đổi cấu trúc. Với cách lây như vậy và với tốc độ lây như vậy mà cũng không xuất hiện biến thể cao hơn Omicron, thì có lẽ với tốc độ lây ở Trung Quốc, nó cũng khó mà thay thế Omicron.  Biến đổi một thể sang một cái khác cho tới hiện nay, theo nhận định của tôi, rất là khó. Bởi vì Omicron đã xuất hiện cả một năm nay rồi, thậm chí hơn nữa, những chỉ có những biến thể nhánh, tức là chỉ có khác về tốc độ lây thôi, chứ không gây bệnh nặng. Nguy cơ đó rất là thấp. Thứ hai là mình có tìm nguy cơ cao hơn thì phải tìm thêm nó là một biến chủng như thế nào. Không chỉ riêng Việt Nam mà cả tất cả các nước đều phải tìm biến chủng đó, nếu nó xuất hiện.  Theo tôi cái quan trọng nhất là có một biến thể nào sớm hay không, có nghĩa là có biến thể nào khác với những biến thể đang xuất hiện ở những nơi khác ngoài Trung Quốc hay không, để mình có thể dự đoán cho tất cả các nước trên thế giới. Tuy nhiên, nếu nó đã lây ra một nước ngoài Trung Quốc thì nó sẽ lây khắp thế giới. Mình cũng phải chuẩn bị tư thế để tìm xem có biến thể nào mới không. Nhưng nếu nó vẫn là biến thể trong dòng của Omicron thì nó không đáng ngại.”  Không cần xét nghiệm du khách Trung Quốc? Trong khi một số nước đã thông báo áp dụng xét nghiệm Covid với hành khách Trung Quốc, thì những nước khác như Úc, Đức, Thái Lan thì không ban các quy định gì mới đối với những người đến từ Hoa lục. Riêng Việt Nam thì cho đến cuối tuần qua chưa có thông báo gì. Nhưng đối với các chuyên gia như bác sĩ Trương Hữu Khách, chưa cần thiết áp dụng xét nghiệm toàn bộ du khách Trung Quốc vào Việt Nam:   “ Kiểm soát thì cũng có lợi hơn một chút thôi, tức là khi có kết quả dương tính thì chúng ta phải phân tích, chạy sequencing, để coi nó thuộc biến thể nào. Nhưng đòi hỏi phải lấy mẫu cho tất cả những người từ bên Trung Quốc sang thì tương đối là khó, bởi vì giao thương giữa Việt Nam với Trung Quốc khá là nhiều. Chắc chắn là Việt Nam sẽ nghe ngóng, sẽ phân tích các số ca nhiễm sau khi giao thương lại với Trung Quốc để xem nó thuộc biến thể gì, chứ còn làm xét nghiệm với tất cả mọi người thì hơi phí, trong khi nền miễn dịch của mình đã đạt được như vậy. Họ sang đây, nếu họ có biểu hiện bệnh mà tình cờ mình xét nghiệm hoặc mình chủ động tìm những ca điển hình và mình nghe ngóng xem là khi nó lây ra ngoài cộng đồng của Việt Nam thì mình cũng phân tích nó loại biến thể nào thì mình mới ứng phó kịp thời, chứ nếu mình làm từ đầu thì rất là tốn kém, mà cũng làm mất đi một cơ hội để làm ăn kinh tế với Trung Quốc.” Theo báo chí trong nước, bộ Y Tế hiện chưa có ý kiến đánh giá tình hình dịch sau khi Trung Quốc thông báo sắp mở cửa trở lại. Tuy nhiên, tại phiên họp thứ 19 Ban chỉ đạo quốc gia phòng chống Covid-19 ngày 23/12, bộ trưởng Y Tế Đào Hồng Lan đã cảnh báo về nguy cơ bùng phát các làn sóng Covid-19 do biến chủng mới. Dịp Tết dương lịch, Tết Nguyên đán với nhu cầu giao thương, du lịch tăng cao, là điều kiện thuận lợi cho các bệnh truyền nhiễm lây lan, có thể làm gia tăng số ca nhiễm Covid-19. Tháng 8, Bộ Y tế đề xuất Thủ tướng chưa công bố hết dịch, chưa xem Covid-19 là bệnh lưu hành tại Việt Nam. Bộ cũng cho rằng hiện Việt Nam "cơ bản đáp ứng" những điều kiện cần thiết để chuyển tiếp từ phòng chống đại dịch sang quản lý bền vững, nhưng vẫn cần cảnh giác với các biến chủng mới của virus.
    1/2/2023
    8:57

Rádios semelhantes

Sobre TẠP CHÍ VIỆT NAM

Website da estação

Ouve TẠP CHÍ VIỆT NAM, Rádio Comercial E várias outras estações de todo o mundo com a aplicação radio.pt

TẠP CHÍ VIỆT NAM

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Descarregue agora gratuitamente e ouve facilmente o rádio e podcasts.

Google Play StoreApp Store

TẠP CHÍ VIỆT NAM: Rádios do grupo